Chương 4 của Colorless Tsukuru Tazaki and his years of pilgrimage
Tác giả: Haruki Murakami
Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà.
Tsukuru TazakiTóm tắt truyện: Tsukuru lớn lên ở Nagoya. Khi còn là học sinh trung học, chàng có bốn người bạn rất thân. Tên của bốn người bạn đều có mang màu sắc chỉ có tên của Tsukuru là không màu. Cả bốn người bạn chọn ở lại thành phố Nagoya nơi họ sinh ra và lớn lên, trong khi Tsukuru lên Tokyo để học đại học. Trong lần Tsukuru về thăm nhà có ý muốn gặp lại nhóm bạn bốn người thì cả nhóm đều cố ý lánh mặt và sau đó cắt đứt tình bạn với Tsukuru. Điều này làm chàng đau đớn và nhiều lần muốn tự tử.
Ở Tokyo Tsukuru có người yêu là Sara Kimoto. Tsukuru kể Sara nghe về sự tuyệt giao của nhóm bạn và Sara khuyên chàng hãy trở về Nagoya tìm cho ra nguyên nhân.Years of pilgrimage có ý ám chỉ cuộc hành trình của Tsukuru đi tìm những bí ẩn xảy ra trong cuộc đời của chàng đồng thời cũng là tên của bản nhạc dương cầm bao gồm ba đoản khúc của Franz Liszt. Đoạn mở đầu của bản nhạc này được Shiro, người bạn gái rất đẹp, yêu thích và thường đàn mỗi khi có người yêu cầu.

Đây là tác phẩm mới nhất của Haruki Murakami. Trong tác phẩm này Murakami bàn đến những vấn đề của tuổi trẻ, tình yêu, tình dục, hoang mang, thiếu định hướng, và nhắc đến bệnh trầm cảm thường đưa những người trẻ tuổi đến chỗ tự tử.

@@@

Chàng gặp cậu ấy ở hồ tắm của trường đại học.
Như Tsukuru, cậu ấy bơi một mình mỗi sáng sớm. Họ bắt đầu chào nhau bằng cái gật đầu, dần dần, họ trò chuyện với nhau. Sau khi thay quần áo, họ cùng đi ăn sáng trong cafeteria của trường. Cậu ta học sau Tsukuru hai năm, theo ngành Vật Lý. Cùng học kỹ sư nhưng ngành Vật Lý và ngành Công Chánh khác xa nhau một trời một vực.
“Anh phải học những môn gì trong ngành Kỹ sư Công chánh?” cậu sinh viên trẻ hỏi chàng.
“Tôi học chuyên về xây cất nhà ga,” Tsukuru trả lời.
“Nhà ga?”
“Hỏa xa. Không phải trạm thông tin TV hay các loại khác.”
“Nhưng tại sao lại là Nhà ga?”
“Tại vì tất cả mọi người đều cần dùng nhà ga,” Tsukuru nói, như thể điều này quá hiển nhiên.
“Hay nhỉ,” cậu sinh viên nói, tưởng chừng anh ta thật sự tin như vậy. “Tôi chưa bao giờ chú ý đến sự cần thiết của một nhà ga.”
“Nhưng, tôi đoán cậu cũng phải dùng nhà ga, nếu không có nhà ga, cậu sẽ gặp khó khăn khi cậu đáp tàu hỏa.”
“Đúng là tôi có dùng tàu hỏa, và tôi hiểu ý anh. . . . Tôi chỉ – ừm – chưa bao giờ nghĩ đến việc là có người có đam mê xây cất nhà ga.”
“Có người thích viết tứ tấu khúc cho vĩ cầm, lại có người thích trồng xà lách và cà chua, thì cũng phải có một vài người thích xây cất nhà ga chứ.” Tsukuru nói. “Thật ra tôi không thể nói là tôi mê xây cất nhà ga. Tôi chỉ rất thích làm công việc này và chỉ công việc này thôi.”
“Nói ra tôi sợ bị chê là người thô lỗ, nhưng tôi nghĩ thật là một điều vinh hạnh khi tìm thấy, công việc đặc biệt mà mình thích làm.”
Tsukuru cho là cậu sinh viên này ngầm chế nhạo chàng, nên gườm gườm nhìn bộ mặt khá đẹp trai của cậu. Nhưng cậu ta rất nghiêm nghị, nét mặt đầy vẻ cởi mở và thành thật.
“Anh thích sáng tạo sự vật, cái tên của anh đã ám chỉ như thế,” cậu nói, có ý nhắc đến chữ tsukuru; chữ này có nghĩa là “làm ra hoặc xây dựng nên.”
“Tôi luôn luôn thích làm ra những đồ vật cụ thể,” Tsukuru thú nhận.
“Tôi thì không,” cậu ta nói. “Tôi rất dở tệ trong cái chuyện làm ra đồ vật. Ngay từ khi còn đi học tiểu học tôi đã rất vụng về với những bài tập phải làm bằng tay. Ngay cả lắp ráp đồ vật theo kiểu mẩu cũng không xong. Tôi thích và không bao giờ thấy chán những thứ trừu tượng, nhưng khi phải dùng tay để làm ra những đồ vật thì lôi thôi lắm. Tuy thế, tôi thích lại nấu ăn; có lẽ tại vì công việc này nghiêng về hướng phá hủy cấu trúc của đồ vật hơn là xây dựng chúng. . . . Nói ra thì có vẻ kỳ cục vì một người không thể làm ra đồ vật lại đi học ngành kỹ sư.”
“Cậu định theo chuyên ngành gì?”
Cậu trai trẻ suy nghĩ giây lâu rồi nói. “Tôi chưa biết. Tôi không có một mục tiêu rõ ràng như anh. Tôi chỉ muốn được chiêm nghiệm về một số sự việc. Tôi muốn được thử suy nghĩ về một số ý tưởng, không nhất định phải theo một trường phái nào. Chỉ thế thôi. Nếu anh thật sự suy nghĩ về điều này, nó cũng giống như xây dựng một khoảng trống không, tôi tạm gọi là hư không.”
“Ha, thế giới cũng cần có vài người có thể sáng tạo ra hư không.”
Cậu trai trẻ bật cười vui vẻ, “Đúng rồi, nhưng điều này rất khác biệt với những người trồng cải trồng cà. Nếu tất cả mọi người trên thế giới đều cố hết sức để làm thành một thế giới trống không, chúng ta sẽ bị nguy khốn.”
“Ý tưởng cũng giống như râu ria vậy. Đàn ông không có nó cho đến khi họ trưởng thành. Có người nào đó đã nói như thế nhưng tôi không nhớ ra là ai.”
“Voltaire,” cậu sinh viên nói. Cậu xoa cằm và mỉm cười, một nụ cười vui vẻ vô tư. “Voltaire nói như thế có lẽ không đúng, nếu so với tôi. Tuy tôi chẳng có cọng râu nào, nhưng tôi thích suy nghĩ chuyện đời kể từ khi còn bé tí.”
Mặt cậu ta đúng là nhẵn nhụi, chẳng có dấu vết gì của râu ria. Lông mày của cậu ta hẹp nhưng rậm. Lỗ tai của cậu ta xinh như một cái vỏ sò.
“Có thể chữ Voltaire muốn dùng không phải là ý tưởng mà là suy nghĩ hay không,” Tsukuru nói.
Cậu sinh viên khẽ nghiêng đầu. “Sự đau đớn là điều dẫn đến suy nghĩ. Nó chẳng liên quan gì với tuổi tác, lại càng chẳng dính dáng gì với râu ria.”
Cậu sinh viên trẻ tuổi này tên là Haida, có nghĩa là, “cánh đồng xám.” Fumiaki Haida. Lại thêm một người nữa có cái họ đầy màu sắc, Tsukuru nghĩ thầm. Ông Xám. Dù màu xám, là một màu không nổi bật.

Cả hai đều không phải là người thích giao thiệp, nhưng vì có cơ hội gặp nhau thường xuyên, tình bạn tự nhiên nảy nở giữa hai người. Họ quyết định gặp nhau mỗi buổi sáng và bơi chung với nhau. Cả hai đều thuộc loại bơi đường trường, bơi tự do, nhưng Haida bơi nhanh hơn một chút. Haida học bơi từ khi còn bé, bơi rất đẹp, không lãng phí một cử động nào. Bả vai của cậu di chuyển nhịp nhàng, như cánh bướm, hầu như không nhô ra khỏi mặt nước. Sau khi Haida góp ý với Tsukuru một vài chi tiết trong cách bơi của Tsukuru, chàng sửa sai và rèn luyện thể lực nhiều hơn, nhờ thế có thể bắt kịp Haida. Thoạt tiên họ chỉ nói với nhau về kỹ thuật bơi, nhưng sau đó họ bắt qua nhiều chủ đề khác.

Haida không cao mấy nhưng khá đẹp trai. Khuôn mặt của cậu thon như khuôn mặt của một pho tượng Hy lạp, và mắt môi của cậu có nét đẹp cổ điển đầy vẻ thông minh và nghiêm trang. Cậu không thuộc loại các chàng trai trẻ có vẻ đẹp đập vào mắt người nhìn, mà là người duyên dáng một cách kín đáo, càng nhìn nét đẹp càng hiện rõ ra.

Tóc của Haida ngắn và hơi xoăn, và cách phục sức của cậu giản dị với quần vải khaki và áo màu nhạt. Nhưng dù quần áo giản dị cậu vẫn có vẻ lịch sự biết cách ăn mặc đúng thời trang. Cậu thích đọc sách nhất, và cũng như Tsukuru, cậu ít khi đọc tiểu thuyết. Sở thích đọc của cậu đi từ Triết học cho đến văn chương cổ điển. Cậu cũng thích kịch nghệ và rất thích loại bi kịch của người Hy lạp cũng như Shakespeare. Cậu rất rành về Noh và bunraku (nghệ thuật rối cổ truyền của Nhật). Haida là người ở Akita Prefecture thuộc vùng xa nhất của miền Bắc Nhật Bản. Da cậu rất trắng và những ngón tay rất dài. Nhưng giỏi hơn Tsukuru ở điểm, cậu có thể nhận ra sự khác biệt giữa nhạc Mendelssohn và nhạc Schumann. Haida là một người rất ít nói, khi ở giữa đám đông nhiều hơn ba người, cậu sẽ cố gắng hết sức để không ai chú ý đến cậu. Cậu có một vết sẹo trên cổ tuy đã cũ nhưng rất rõ, dài chừng gần bốn phân, giống như là vết dao cắt. Vết sẹo làm cho cậu có vẻ gì kỳ lạ mặc dù dáng dấp của cậu rất yên tĩnh.
Haida từ Akita đến Tokyo mùa xuân năm ấy. Cậu ở ký túc xá gần đại học nhưng chưa có bạn. Khi gặp nhau, cảm thấy rất hợp tính, họ giao thiệp nhiều hơn và Haida bắt đầu ghé thăm căn hộ của Tsukuru.

“Làm sao một sinh viên lại có thể trả chi phí cho một căn condo đắt tiền như thế này?” Haida hỏi với vẻ ngạc nhiên lần đầu tiên cậu đến viếng căn hộ củaTsukuru.

“Bố tôi là người quản lý của một cơ sở mua bán bất động sản ở Nagoya, và cũng là chủ một vài bất động sản ở Tokyo,” Tsukuru giải thích. “Căn hộ này lúc ấy đang bỏ trống, vì thế tôi được phép ở đây. Người chị thứ nhì của tôi trước kia cũng ở căn hộ này, nhưng sau khi học xong đại học chị dọn ra và tôi dọn vào. Căn hộ này thuộc về công ty.”
“Gia đình anh chắc thuộc hàng giàu có?”
“Tôi không rõ lắm. Rất có thể – tôi không biết chuyện giàu nghèo. Tôi nghĩ ngay cả bố tôi cũng không biết chắc chắn, ngoại trừ sau khi ông nhóm tất cả mọi người như kế toán viên, luật sư, cố vấn thuế và cố vấn đầu tư lại chung trong một phòng. Dường như hoàn cảnh gia đình tôi không đến nỗi nào, đó là lý do tôi có thể ở trong một chỗ như thế này. Tin tôi đi, tôi rất là cảm ơn.”
“Nhưng anh không muốn theo đuổi ngành thương mại như bố anh?”
“Không. Trong nghề của bố tôi, cậu phải thường xuyên di chuyển tiền vốn – từ chỗ này sang chỗ khác rồi quay lại chỗ cũ. Những chuyện như thế khiến tôi cảm thấy bất an. Tôi không giống như bố tôi. Tôi thích ở một chỗ và cứ thế mà xây cất nhà ga, ngay cả khi công việc này không tạo ra lợi nhuận.”
“Cái yêu thích của anh rất độc đáo,” Haida nói và nở nụ cười rất tươi.
*
Tsukuru vẫn ở trong căn hộ một phòng ngủ, trong thành phố Jiyugaoka này, ngay cả sau khi chàng học xong đại học và bắt đầu làm việc ở trung ương của một công ty hỏa xa ở Shinjuku. Khi chàng được ba mươi tuổi, bố chàng qua đời và căn hộ chính thức thuộc về chàng. Bố chàng đã có dụng ý cho chàng nên âm thầm chuyển chủ quyền căn hộ qua tên chàng. Chồng người chị cả của Tsukuru trở thành người quản lý công ty của bố chàng. Tsukuru tiếp tục ở Tokyo xây cất nhà ga và ít khi liên lạc với gia đình. Chàng ít khi về thăm Nagoya.

Khi trở về quê hương làm đám tang cho bố, chàng nghĩ rằng bốn người bạn thân sẽ đến chia buồn. Chàng tự hỏi mình sẽ chào đón các bạn như thế nào khi họ đến. Nhưng chẳng người nào đến. Tsukuru cảm thấy nhẹ nhõm, nhưng cùng lúc lại cảm thấy hơi buồn, và một lần nữa chàng đau đớn nhận ra rằng: tình bạn của chàng với bốn người bạn học cũ đã hoàn toàn tan rã. Họ sẽ chẳng bao giờ có thể làm lại tình bạn thân thiết ngày xưa. Cả năm người, ngay lúc ấy đã ba mươi tuổi – không còn ở cái tuổi mơ mộng sẽ có một cộng đồng thứ tự và rất hòa hợp giữa bạn bè với nhau.

Có khoảng phân nửa số người trên thế giới không thích cái tên của họ. Điều này Tsukuru biết được khi tình cờ đọc một bài thống kê trên báo hay tạp chí nào đó. Chàng thuộc về nhóm năm chục phần trăm còn lại – hay ít ra, chàng không thuộc vào nhóm người không thích cái tên của mình. Có lẽ nói chính xác hơn chàng không thể tưởng tượng là mình sẽ có một cái tên khác, sẽ sống một cuộc đời khác nếu như chàng mang một cái tên khác.

Tên Tsukuru, có một chữ của tiếng Trung quốc kèm theo, được dùng để phát âm theo cách phát âm hiragana, và nhóm bạn của chàng đã tưởng rằng tên chàng chính thức được viết như thế. Mẹ và hai người chị của chàng dùng một chữ khác theo một cách phát âm khác, kèm theo chữ Tsukuru. Họ gọi chàng là Saku hay Saku-chan, vì họ thấy cách này dễ phát âm hơn.

Bố là người đặt tên cho chàng. Trước khi Tsukuru ra đời, Bố đã chọn sẵn cái tên hàm nghĩa sáng tạo cho chàng. Không ai biết tại sao. Có lẽ tại vì Bố chàng suốt đời hành nghề không liên hệ đến sự sáng tạo hay làm ra đồ vật nên ông mơ ước đứa con có tài sáng tạo, hoặc có lẽ ông được ơn trên ứng xuống – bằng một ánh chớp vô hình kèm với một tiếng sấm vô âm nào đó, khiến chữ Tsukuru như một vết cháy in hằn trong óc của ông. Bố chàng chẳng bao giờ nói đến ông đã tìm thấy cái tên này từ nơi đâu với Tsukuru hay bất cứ ai.

Khi cân nhắc hai bộ chữ Trung quốc có thể được dùng làm cách phát âm cho chữ Tsukuru, bộ chữ thứ nhất khiến chữ tsukuru có nghĩa là “sáng tạo”, và bộ chữ thứ hai đơn giản hơn làm tsukuru có nghĩa là “làm ra” hay “xây dựng”, Bố chàng đã mất rất nhiều thời gian nhưng không thể quyết định chọn bộ nào. Cuối cùng ông chọn bộ chữ thứ hai, bộ chữ đơn giản hơn.

Sau khi đám tang của Bố, mẹ Tsukuru nhớ lại lần nói chuyện với chồng khi ông chọn tên. “Bố con ngại rằng đặt cho con cái tên có nghĩa là sáng tạo có thể là gánh nặng cho con,” bà nói với Tsukuru. “Cái bộ chữ đơn giản hơn vẫn đọc là ‘Tsukuru,’ và bố con nghĩ cái tên đó sẽ giúp cuộc đời con dễ dãi hơn. Con nên hiểu bố con đã suy nghĩ rất nhiều về việc đặt tên cho con. Con là đứa con trai đầu tiên.”

Tsukuru không nhớ mình có kỷ niệm thân thiết nào với bố nhưng khi nói đến sự chọn lựa để đặt tên cho chàng, chàng phải đồng ý với sự suy nghĩ của ông. Cái ý nghĩa đơn giản của chữ tsukuru thích hợp với chàng hơn, bởi vì chàng không có máu sáng tạo. Nhưng sự chọn lựa nói trên có làm vơi đi những gánh nặng trong đời chàng? Có thể bởi vì cái tên của chàng, những gánh nặng của cuộc đời vẫn tìm đến với chàng bằng những hình thức khác. Nhưng liệu chúng có giúp cho quang gánh cuộc đời nhẹ hơn hay không, Tsukuru không thể nào biết được.

Đó là cách chàng trở thành Tsukuru Tazaki. Trước đó, chàng chỉ là khoảng không – tối tăm, và chỉ là một khối hỗn độn không tên. Một khối thịt chừng ba kí lô trong bóng tối thở và kêu khóc yếu đuối. Đầu tiên chàng được đặt cho một cái tên. Rồi tiếp theo đó chàng có ý thức, phát triển ký ức, và cuối cùng là, bản ngã. Nhưng mọi thứ trong đời đều bắt đầu thành hình từ sau cái tên của chàng.

Tên của bố chàng là Toshio Tazaki – “Toshio” có nghĩa là “người được hưởng lợi,” “Tazaki” có nghĩa là “nhiều bán đảo.” Cái tên hoàn hảo cho một người thật sự hưởng nhiều lợi lộc từ nhiều lãnh vực. Ông bắt đầu từ cuộc sống nghèo khó đi đến chỗ có một nghề rất được kính trọng. Ông cống hiến cuộc đời trong lãnh vực bất động sản, và nhờ sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản ông đạt đến đỉnh thành công sáng chói. Sau đó ông bị ung thư phổi và qua đời vào lúc sáu mươi bốn tuổi. Nhưng tất cả những chi tiết này đến sau. Khi Tsukuru gặp Haida, bố của chàng vẫn còn khỏe mạnh, không hề mệt mỏi và hoàn toàn chủ động trong việc mua bán nhà phố hạng sang đồng thời hút thuốc lá không đầu lọc năm chục điếu mỗi ngày. Những bong bóng thương mại bất động sản đã tan vỡ nhưng ông đã tiên liệu rủi ro nên chuyển vốn đầu tư vào các lãnh vực khác để có thể giảm thiểu thất bại tài chính. Và khi ấy cơn bệnh trầm kha của ông vẫn chưa bộc phát.

“Bố tôi dạy triết học ở một trường đại học công lập ở Akita,” Haida nói với Tsukuru. “Cũng giống như tôi, bố tôi thích nhất là được nghiền ngẫm những ý tưởng trừu tượng. Ông luôn nghe nhạc cổ điển, và ngốn ngấu những quyển sách không ai đọc bao giờ. Ông hoàn toàn không có khả năng làm ra tiền và tất cả những món tiền ông kiếm được ông đều dùng để mua sách và đĩa nhạc. Ông ít khi nghĩ đến gia đình hay dành dụm tiền. Đầu óc của ông luôn ở trên mây. Tôi có thể học ở Tokyo bởi vì giá tiền học ở trường tôi không đắt, và tôi ở ký túc xá nên không tốn kém nhiều.
“Về khía cạnh tiền bạc, theo ban vật lý thì có tốt hơn theo ban triết học không?” Tsukuru hỏi.
“Nói về những sinh viên khi tốt nghiệp không kiếm được tiền thì cả hai bên bằng nhau. Ngoại trừ khi anh được trao giải Nobel hay cái gì đó,” Haida nói, vẫn nụ cười rạng rỡ trên môi.
Haida là con độc nhất. Cậu chẳng có nhiều bạn, nhờ vào con chó và nhạc cổ điển làm bạn với cậu.

Ký túc xá mà cậu đang ở không phải là nơi thích hợp nhất để thưởng thức nhạc cổ điển và dĩ nhiên cậu cũng không thể nuôi chó ở đây, vì thế cậu thường đến căn hộ của Tsukuru mang theo một vài CD để nghe nhạc. Phần lớn những CD này cậu mượn ở thư viện đại học. Đôi khi cậu mang đến vài đĩa nhựa loại cũ của chính cậu. Tsukuru có một bộ stereo khá tốt, nhưng những đĩa nhạc chị chàng để lại toàn là loại nhạc của Barry Manilow và Pet Shop Boys, vì thế Tsukuru ít khi nào đụng đến máy nghe đĩa nhạc.

Haida thích nghe nhạc trình diễn bằng dương cầm, vĩ cầm, nhạc thính phòng, và nhạc thu âm. Haida không thích loại nhạc trình diễn khi giàn nhạc quá ồn ào. Tsukuru không mấy yêu thích nhạc cổ điển (hay bất cứ loại nhạc nào khác) nhưng chàng lại rất thích nghe nhạc với Haida.

Khi cả hai cùng nghe một bản dương cầm, Tsukuru nhận ra rằng chàng đã nghe bản này rất nhiều lần. Chàng không biết tựa đề, hay tác giả. Đây là một bản nhạc buồn, bắt đầu bằng những nốt rời, rồi tiếp diễn thành một chuỗi nốt nhạc yên tĩnh. Tsukuru ngước nhìn từ những trang sách chàng đang đọc và hỏi Haida bản nhạc tên gì.
“ ‘Le mal du pays’ của Franz Liszt” Bản nhạc này được trích trong Years of Pilgrimage ‘Năm 1: Thụy Sĩ.”
“ ‘Le mal du . . . ‘?”
“ ‘Le mal du pays.’ Tiếng Pháp. Nó được dịch thành ‘nhớ nhà,’ hay ‘ưu sầu.’ Nếu anh cố tìm một định nghĩa chắc chắn hơn, nó nghiêng về cái nghĩa ‘một nỗi buồn vô cớ xảy ra trong tâm hồn một người bởi vì phong cảnh đồng quê.’ Đây là một cách phát biểu rất khó dịch sang ngôn ngữ khác cho thật chính xác.”
“Có một người tôi quen, đàn bản này rất nhiều lần. Cô bạn cũ thời trung học.”
“Tôi rất thích bản nhạc này. Tuy nhiên đây không phải là đoạn nhạc được nhiều người biết tiếng,” Haida nói. “Bạn anh chơi dương cầm rất giỏi?”
“Khó nói lắm. Tôi không biết rành về âm nhạc. Nhưng mỗi khi tôi nghe bản này tôi thấy nó rất hay. Tôi không biết diễn tả như thế nào? Nó có một nỗi buồn sâu lắng, nhưng không ủy mị sướt mướt.”
“Thế thì cô ấy phải đàn rất giỏi,” Haida nói. “Đoạn nhạc này có vẻ như thuần về kỹ thuật nhưng rất khó biểu diễn tình cảm cho đúng mức. Chỉ đàn theo đúng những nốt nhạc được viết ra trên bản đàn thì nghe rất nhàm nhán. Nhưng nếu chọn chiều hướng ngược lại và diễn dịch cường điệu thì nó lại mang âm hưởng tầm thường. Chỉ cần cách anh dùng bàn đạp tạo nhịp điệu cũng đủ làm nó khác biệt hẳn, và có thể thay đổi đặc tính của bản đàn.”
“Nhạc sĩ nào đang trình diễn bản này?”
“Một nhạc sĩ Nga, Lazar Berman. Ông ta đàn nhạc của Liszt nghe giống như ông ta đang nhẹ nhàng vẽ một bức tranh phong cảnh trong tưởng tượng. Nhiều người cho rằng nhạc dương cầm của Liszt hời hợt và chỉ toàn là kỹ thuật. Dĩ nhiên, ông ấy có nhiều bản đàn rắc rối, nhưng nếu anh lắng nghe anh sẽ khám phá ra chiều sâu mà ban đầu anh không để ý. Phần lớn, chiều sâu này ẩn núp sau những nốt nhạc tưởng chừng chỉ để trang trí. Điều này thật sự đúng với bản nhạc Years of Pilgrimage. Không có mấy nhạc sĩ dương cầm còn sống có thể đàn bản này một cách chính xác và diễn đạt được cái đẹp của nó. Trong những nhạc sĩ dương cầm đương thời, Berman đạt đúng mức và nếu nói về những nhạc sĩ thời trước tôi thấy có Claudio Arrau.”

Haida nói khá nhiều khi bàn về âm nhạc. Cậu ta tiếp tục, nói về tính chất đặc biệt của Berman khi trình diễn nhạc Liszt, nhưng Tsukuru chẳng còn nghe thấy gì nữa. Thay vào đó, hình ảnh Shiro đang biểu diễn bản nhạc, một bức ảnh tinh thần, sống động và gần như hiện thực tràn đầy tâm trí chàng. Như thể những giây phút đẹp đẽ đang từ từ bơi về, theo dòng ký ức, ngược lại với thời gian.

Cây đàn dương cầm Yamaha đặt trong phòng khách ở nhà nàng. Phản chiếu sự tận tụy của Shiro, dây đàn luôn luôn căng đúng giọng. Cái bề ngoài bóng loáng không một vệt bẩn hay dấu tay càng làm nó rực rỡ hơn. Ánh nắng chiều xuyên qua khung cửa sổ. Bóng cây trải trong vườn từ những gốc tùng. Bức màn mỏng làm bằng đăng ten phất phơ trong gió thoảng. Tách trà trên bàn. Mái tóc đen, cột gọn phía sau, vẻ mặt nàng chăm chú khi nhìn vào bản đàn. Mười ngón tay thuôn dài của nàng đặt trên phím đàn. Chân nàng đặt chính xác trên bàn đạp giữ nhịp, chứa đựng một sức mạnh ngầm và kín đáo; khó tưởng tượng được sức mạnh này ở một tình huống khác. Hai bắp chân của nàng như được tráng một lớp sứ trắng bóng mượt. Bất cứ khi nào có ngưới yêu cầu đàn một bài, nàng thường chọn bản này. “Le mal du pays.” Nỗi buồn vô cớ xuất hiện trong tâm hồn của một người khi người ấy đi ngang một cánh đồng. Nỗi buồn nhớ nhà. Mối ưu sầu.

Chàng khép hờ đôi mắt, thả hồn theo tiếng nhạc. Tsukuru cảm thấy ngực chàng bị thắt lại một cảm giác nhức nhối, như thể, trước khi nhận ra điều này, chàng đã nuốt phải một cụm mây cứng ngắc. Đoạn nhạc chấm dứt và sang đoạn tiếp theo, nhưng chàng chẳng nói lời nào, để những hình ảnh của quá khứ chiếm trọn tâm hồn chàng. Haida thỉnh thoảng liếc nhìn chàng.

“Nếu anh không phiền, tôi xin để đĩa nhạc này lại đây. Tôi không thể nghe nó ở trong ký túc xá của tôi,” Haida nói ngay lúc cậu ta cho đĩa nhạc vào trong bao của nó.

Đến bây giờ bộ đĩa nhạc bao gồm ba đĩa vẫn còn nằm trong căn hộ Tsukuru bên cạnh Barry Manilow và Pet Shop Boys.

* * *

Haida nấu ăn rất ngon. Để cảm ơn Tsukuru đã cho phép cậu nghe nhạc (ở căn hộ của chàng), cậu mua vật liệu và tự nấu trong bếp Tsukuru. Chị Tsukuru đã để lại một bộ xoong nồi, và bát đĩa. Chúng là gia tài của chàng – cũng như bàn ghế tủ giường và đôi khi những cú điện thoại của các anh bồ cũ. (“Rất tiếc, chị tôi không còn ở đây nữa)”. Chàng và Haida ăn tối với nhau hai hay ba lần trong tuần. Hai người nghe nhạc, chuyện trò, và ăn bữa ăn Haida đã nấu. Cậu bé thường chỉ nấu những món ăn đơn giản, thường ngày, tuy nhiên vào những ngày lễ lộc, có nhiều thì giờ hơn cậu thử những công thức rườm rà hơn. Món nào cậu nấu cũng ngon. Haida dường như có biệt tài nấu ăn. Bất cứ món gì cậu ấy nấu – trứng chiên, canh miso, sốt bằng kem sữa, hay paella – đều được làm một cách khéo léo và thông minh.

“Thật uổng phí khi cậu theo học ngành vật lý. Đáng lẽ ra cậu nên mở nhà hàng,” Tsukuru nói nửa thật nửa đùa.

Haida bật cười. “Nghe thật là hấp dẫn. Nhưng tôi không muốn bị trói buộc vào một chỗ. Tôi muốn được tự do – đi bất cứ nơi nào tôi muốn, khi nào tôi muốn, và có thể suy nghĩ về bất cứ cái gì tôi muốn.”

“Hẳn nhiên, nhưng thực hiện những điều ấy thật không dễ dàng.”

“Không dễ. Nhưng tôi đã quyết định rồi. Tôi luôn luôn muốn được tự do. Tôi thích nấu ăn, nhưng tôi không muốn bị giam vào nhà bếp, nấu ăn như một cái nghề. Nếu điều này xảy ra, tôi sẽ trở nên một kẻ ghét người.”
“Tại sao lại ghét người?”
“Anh đầu bếp thì ghét anh bồi bàn, và cả bồi bàn lẫn đầu bếp đều ghét thực khách,” Haida nói. “Đây là một câu trong vở kịch Nhà Bếp của Arnold Wesker. Những người bị tước đoạt tự do sẽ trở nên ghét người ta. Đúng không? Tôi biết là tôi không muốn sống như thế.”
“Không bao giờ bị giới hạn và ràng buộc, được tự do suy nghĩ mọi thứ trên đời – đó là những điều cậu mong muốn?”
“Đúng vậy.”
“Suy nghĩ tất cả mọi chuyện một cách tự do cũng không dễ dàng gì.”
“Điều đó có nghĩa là bỏ lại phía sau phần thân thể vật chất. Bỏ lại cái chuồng giam làm bằng da thịt của mình, cắt đứt những sợi dây trói buộc, để cho tư tưởng được thoát ra và bay bổng. Đem một đời sống tự nhiên bình thường để đổi lấy cơ sở lý luận. Đó chính là cốt lõi của tự do tư tưởng.”
“Nghe thật chẳng dễ dàng tí tị nào.”
Haida lắc đầu. “Không hẳn thế. Tùy theo cách anh nhìn, thật ra nó không khó lắm. Hầu hết mọi người đều thỉnh thoảng thực hiện điều này nhưng không để ý. Đó là cách họ tự giữ cho mình không trở nên điên rồ. Họ chỉ không nhận biết hành động của họ thôi.”
Tsukuru có phần nào công nhận cậu ta có lý. Chàng thích trò chuyện với Haida về những ý tưởng trừu tượng như thế này, hay là về những ý tưởng tùy thuộc vào nhận thức của mỗi người. Thường thường, chàng không phải là người thích trò chuyện, nhưng có cái gì đó trong những cuộc mạn đàm với cậu bé này làm chàng suy nghĩ, và đôi khi lời lẽ tuôn ra. Chàng chưa bao giờ trải qua kinh nghiệm này với ai. Khi còn ở Nagoya, trong nhóm năm người của chàng, chàng thường xuyên giữ vị trí người nghe.

“Nhưng trừ khi cậu có thể thực hiện tự do tư tưởng một cách có chủ ý,” Tsukuru nói, “cậu không thể đạt đến mức độ tự do tư tưởng mà cậu đang nói đến, đúng không?”

Haida gật đầu. “Đúng. Chuyện này cũng khó như anh cố ý nằm mơ vậy. Nó nằm ngoài khả năng của con người trung bình.”
“Nhưng mà cậu vẫn muốn có thể thực hiện tự do tư tưởng một cách chủ ý?”
“Anh có thể nói thế.”
“Tôi không nghĩ là người ta dạy chuyện này trong ngành vật lý.”
Haida cười to. “Tôi chẳng bao giờ nghĩ là họ sẽ dạy điều này. Điều mà tôi kiếm tìm là một môi trường tự do, và có thì giờ. Thế thôi. Trong môi trường giáo dục nếu anh muốn thảo luận về ý nghĩa của hành động suy nghĩ, trước nhất anh phải đồng ý về định nghĩa của lý thuyết. Và từ đây chuyện sẽ trở nên rắc rối. Không có cái gọi là nguồn gốc của sáng tạo, chỉ có sự bắt chước một cách ý thức thôi. Voltaire, một nhà văn thuộc trường phái hiện thực, đã nói thế.”
“Cậu đồng ý với lập luận này?”
“Tất cả mọi thứ đều có ranh giới. Trên lãnh vực tư tưởng cũng vậy. Anh không nên sợ những cái ranh giới này, nhưng anh cũng không nên sợ hãi những thứ phá hủy chúng. Đó mới chính là điều quan trọng nhất nếu anh muốn được tự do: sự kính trọng và cả sự ác cảm dành cho mọi thứ ranh giới. Điều thật sự quan trọng trong cuộc đời lại luôn luôn là những thứ bị xem là hàng phụ thuộc. Về vấn đề này tôi chỉ có thể nói ngần ấy thôi.”
“Tôi hỏi cậu một câu có được không?” Tsukuru nói.
“Được chứ.”
“Trong các tôn giáo khác nhau, những nhà tiên tri rơi vào trong một cơn mê và nhận thông điệp của đấng tối cao.”
“Đúng.”
“Và điều này xảy ra ở một nơi có thể đưa người ta đến mức độ tự do tư tưởng tuyệt đối, đúng không? Luôn luôn ở tư thế thụ động.”
“Điều này đúng.”
“Cái thông điệp này vượt qua khỏi tất cả những ranh giới của đấng tiên tri này và nó truyền đạt ảnh hưởng một cách rộng lớn hơn.”
“Lại đúng.”
“Và thông điệp này không có sự mâu thuẫn hay tối nghĩa.”
Haida gật đầu.
“Tôi không hiểu được,” Tsukuru nói. “Nếu đúng như vậy, thế thì cái giá trị của tự do tư tưởng tuyệt đối của con người là gì?”
“Đây là một câu hỏi khó trả lời,” Haida nói và mỉm cười nhẹ nhàng. Cái cười của một con mèo khi nó duỗi người và ngủ ngoan trong nắng ấm. “Tôi ước gì tôi có câu trả lời cho anh, nhưng tôi không có. Chưa có.”

Haida bắt đầu ở lại ngủ đêm trong căn hộ của Tsukuru vào những ngày cuối tuần. Hai người nói chuyện đến khuya rồi Haida kéo cái giường gấp trong sô pha ra giữa phòng khách và đi ngủ. Sáng sớm cậu ấy pha cà phê và tráng trứng omelet cho cả hai. Haida chú trọng đặc biệt đến cà phê, luôn dùng loại hạt cà phê thơm hảo hạng. Cậu ta tự xay cà phê bằng cái máy xay cậu mang theo. Đam mê cà phê ngon của cậu là hành động xa xỉ độc nhất trong cuộc sống thanh đạm của cậu.

Đối với người bạn mới thân này, Tsukuru có thể thổ lộ tâm sự rất nhiều. Tuy thế chàng vẫn cẩn thận không kể lại quan hệ của chàng với bốn người bạn thân ở Nagoya. Với chàng, chuyện này không dễ nói. Vết thương trong lòng chàng vẫn còn tươi và sâu quá.

Tuy thế, khi chàng gặp mặt với người bạn trẻ này, chàng có thể tạm thời quên bốn người bạn cũ. Không, quên không phải là chữ chàng muốn dùng. Nỗi đau lòng khi bị phụ rẫy công khai luôn hiện diện trong chàng. Nhưng bây giờ, nó như cơn thủy triều, khi đầy khi vơi. Khi thì nó dâng đến tận chân của chàng, lúc khác nó lại rút ra rất xa, xa đến độ chàng hầu như không cảm thấy nó nữa. Tsukuru có thể cảm thấy, từng chút một, chàng bắt đầu bén rễ ở Tokyo, xây dựng một cuộc đời mới ở đây, dẫu rằng cuộc đời mới này nhỏ bé và cô độc. Chuỗi ngày chàng sống ở Nagoya trở thành quá khứ gần như xa lạ. Sự thay đổi này, không thể nào nhầm lẫn được, là một bước tiến bộ mà Haida, người bạn trẻ, đã mang đến cho cuộc sống của chàng.

Haida là người hay phát biểu ý kiến và cậu luôn luôn có thể biện luận một cách hợp lý khi trình bày quan điểm của cậu. Càng giao thiệp lâu với người bạn trẻ tuổi hơn chàng, Tsukuru càng kính nể bạn. Tuy thế Tsukuru không thể hiểu tại sao Haida quí mến chàng, hầu như bị chàng thu hút. Hai người thích nhau đến độ thì giờ dùng để trêu chọc nhau cũng trôi qua rất nhanh.

Sống một mình, đôi khi Tsukuru thèm muốn có người yêu. Chàng muốn ôm một người con gái vào lòng, vuốt ve thân hình nàng, ngửi mùi hương toát ra từ làn da của nàng. Đó là một thèm muốn tự nhiên của bất cứ người thanh niên khỏe mạnh nào. Nhưng khi chàng cố tưởng tượng đến hình ảnh của một cô gái, và nghĩ đến việc ôm cô gái ấy vào vòng tay mình, không hiểu tại sao, tự động hình ảnh của Shiro và Kuro hiện ra và tràn lấp tư tưởng chàng. Hai cô gái này luôn xuất hiện cùng lúc trong cái thế giới tưởng tượng của chàng, là một đôi không thể tách rời. Điều này luôn luôn làm Tsukuru cảm thấy buồn bã mà không thể giải thích được. Tại sao, ngay cả bây giờ, luôn luôn là hình ảnh của hai cô bạn này? Chàng nghĩ. Họ đã ruồng rẫy tôi. Nói là không bao giờ muốn gặp lại tôi nữa, ngay cả nói chuyện với tôi cũng không. Tại sao họ không im lặng rời bỏ tôi và để cho tôi yên? Tsukuru lúc ấy đã hai mươi tuổi, nhưng chưa bao giờ được ôm một thiếu nữ vào lòng. Hay hôn một người con gái, hay nắm tay nàng, ngay cả hẹn hò đi chơi riêng với nhau cũng không.

Có lẽ có một cái gì đó không mấy bình thường trong bản chất của mình, Tsukuru thường nghĩ như thế. Có một cái gì đó chặn đứng nguồn luân lưu của cảm xúc, khiến mình hư hỏng. Nhưng Tsukuru không biết sự tắc nghẹn này xảy ra khi chàng từ bỏ bốn người bạn của chàng hay đó là một tật bẩm sinh, một thứ hình dáng không liên hệ đến cái chấn thương mà chàng đã trải qua.
. . .
Một buổi tối thứ Bảy, chàng và Haida trò chuyện đến khuya như thường lệ khi hai người bàn đến chủ đề cái chết. Họ nói về sự quan trọng của cái chết chậm chạp dần mòn, về cái sống khi biết mình sắp phải chết. Họ thảo luận điều này căn bản chỉ dựa vào lý thuyết. Tsukuru muốn giải thích là chàng đã nhiều phen giáp mặt với cái chết, gần đây thôi, điều này làm thay đổi chàng một cách rất thâm sâu, cả thể chất lẫn tâm hồn. Chàng muốn kể cho Haida nghe những điều rất kỳ dị chàng đã nhìn thấy. Nhưng chàng biết, nếu chàng nói, chàng phải giải thích theo thứ tự những điều đã xảy ra, từ lúc bắt đầu cho đến khi chấm dứt. Vì thế như thường lệ. trong suốt cuộc đàm thoại trong khi Haida nói Tsukuru chỉ lắng nghe.

Chừng khoảng hơn 11 giờ khuya, câu chuyện của hai người nhạt dần và im lặng rơi xuống căn phòng. Thường khi, hai người chào nhau rồi đi ngủ vì cả hai đều có khuynh hướng thức dậy sớm. Nhưng Haida vẫn yên lặng, ngồi xếp bằng trên ghế sô pha, suy nghĩ. Sau đó, giọng ngập ngừng, điều này ít khi xảy ra, cậu nói.
“Tôi có một câu chuyện khá kỳ lạ có liên quan đến cái chết. Chuyện này bố tôi kể tôi nghe. Ông ấy nói đây là câu chuyện có thật xảy ra khi ông mới hơn hai mươi tuổi. Khoảng tuổi của tôi hiện nay. Tôi nghe câu chuyện này nhiều lần đến độ tôi nhớ nằm lòng mọi chi tiết. Nó đúng là một câu chuyện rất kỳ lạ – ngay cả tôi cũng thấy chuyện này rất khó tin – nhưng bố tôi không phải là hạng người có thể nói dối, hay có thể bịa đặt ra chuyện như vậy. Anh cũng biết mà, khi anh bịa ra một câu chuyện thì những chi tiết trong chuyện sẽ thay đổi mỗi lần anh kể lại câu chuyện. Anh sẽ thêm mắm dặm muối, và quên những điều anh đã kể trước kia. . . . Nhưng câu chuyện của bố tôi, từ lúc bắt đầu cho đến khi chấm dứt, luôn luôn giống hệt nhau mỗi lần ông kể. Vì thế tôi tin là ông thật sự trải qua câu chuyện. Tôi là con của ông, và tôi rất hiểu bố tôi, vì thế tôi chỉ có thể tin lời bố tôi kể. Nhưng anh không quen biết với bố tôi, Tsukuru, cứ thoải mái, tin hay không tin cũng được. Chỉ xin anh hiểu câu chuyện này là do bố tôi kể. Anh có thể xem nó như một thứ chuyện dân gian, hay một chuyện mê tín, tôi không phiền. Chuyện khá dài và đêm cũng khuya rồi, anh có phiền lòng không nếu tôi kể.

Kể đi, Tsukuru nói, không sao cả. Tôi chưa buồn ngủ.